Posted on Tháng Năm 19, 2010 by hlinhnie
Tôi đã từng kể các bạn nghe ý kiến của bà A.Tonia, nhà dân tộc
học người UCraina rằng ” bà con các dân tộc TN rất thông minh khi tổ
chức cuộc sống”. Vậy hãy để tôi khoe sự thông minh ấy, trong vài nét về
kiến trúc nhà ở Tây Nguyên với mọi người nhé
Đến Tây Nguyên, điều đập vào mắt du khách trước tiên là những nhà
rông mái cao vút như chiếc rìu khổng lồ tạc vào bầu trời xanh lồng lộng.
Ở vùng Êđê, Jrai còn là căn nhà sàn “ dài bằng một tiếng chiêng ngân”
mà Trường ca – sử thi Dam San đã nhắc tới. Kiến trúc nhà ở & nhà mồ
đó chính là những đặc trưng cơ bản nhất của văn hoá vật thể các dân
tộc thiểu số Trường Sơn- Tây Nguyên nói chung.
Vậy đặc trưng kiến trúc Tây Nguyên là gì?
Điểm đặc biệt thứ nhất : Vật liệu hoàn toàn bằng gỗ, tre, nứa,
tranh….những loại cây cỏ hiện diện trong rừng. Không có bất cứ một vật
dụng nào bằng sắt thép hay những chất kết dính không mang tính tự nhiên.
Phương tiện dùng để dựng nên căn nhà cũng rất đơn giản, chỉ với những
chiếc rìu ( xagac).Mỗi một tộc người đều kiểu cách riêng, do chính các
kiến trúc sư vai trần chân đất, đóng khố của cộng đồng tự “ thiết kế”,
tạo hình.
Điểm đặc biệt thứ hai : các cột và xà nhà nhà sàn hay nhà Rông chỉ
được đặt chồng lên nhau, hoặc ghép mấu ( theo dạng ngàm) vào nhau rất
trùng khít .
Điểm đặc biệt thứ ba : Nhà còn là nơi nghệ thuật tạo hình tung tẩy
trên các thân cột, xà ngang bằng chạm khắc nổi, vẽ những hình ảnh quen
thuộc với cư dân rừng núi, như chim, rùa, kỳ đà, hoặc các hình sao, hình
dấu nhân, mặt trời…
Nhà ở thường làm theo hướng Bắc – Nam đón gió mát và không bị hắt nắng chiều
Nhà mồ làm theo hướng Đông – Tây, gió và nắng lồng lộng xua tan mùi hôi hám ( nếu có)
Nhà Rông :

Nhà Rông Sê Đăng Nhà Rông Jrai
Các tộc người Bâhnar, Sê Đăng, Jrai, Triêng, Ca Tu… thường định cư
một chỗ nên có nhà sinh hoạt cộng đồng, gọi chung là Rông. Ngôi nhà Rông
của các cộng đồng làng đều là nhà sàn, phổ biến có hình dạng mái cao
vút dáng như lưỡi rìu, vượt hẳn lên trên mái các ngôi nhà trong làng.
Trên mái nhà rông, cầu thang lên xuống,các xà ngang, cột cái trong nhà
trang trí nhiều mô típ hoa văn.
* Nhà Rông của người Bâhnar và Sê Đăng có hình dạng tượng tự như
nhau. Tuy nhiên bề ngang mái Rông Bâhnar thường bằng chiều ngang nhà,
trong khi mái rông Sê Đăng lại thót dần lại khi lên cao hơn. Thông
thường Rông xử dụng gỗ chò chỉ, hoặc cà chít để làm cột; vách và sàn là
nứa đập dập, các vì kèo bằng tre nứa và lợp bằng tranh.
Mái nhà Rông dốc, thường cao từ 10-15 m, có hai đầu hồi cũng nhỏ dần
lên tận nóc. Một nửa phía trên mái nhà Rông của người Sê Đăng lợp bằng
hai lớp nứa đan cài các hoa văn hình quả trám và kỷ hà rất đẹp, nửa mái
dưới và hai đầu hồi mới lợp bằng tranh. Sau khi đã lợp mái, người ta
mới đan phên nứa để làm vách, cũng đan hai lớp để tránh mưa tạt.
Sàn nhà Rông bằng cây tre lớn, chẻ đôi, chặt hết “ mắt”, đập dập làm
bốn mảnh, thường cách mặt đất chừng hơn 1 m. Có 8 cây cột cái ( đại
thụ). Những nhà Rông lớn như của người Bâhnar Rngao ở làng Kon Rbang,
thị xã Kon Tum có hệ thống cột to hơn một vòng tay ôm.
* Khác với các tộc người Sê Đăng, Bâhnar,Gươn hoặc Ưng của nhóm các
tộc người Ca Tu, Jẻ, Triêng, Vân Kiều, Sơ Drá… cấu trúc tương tự như
nhau, cũng cao lớn hơn nhà ở thông thường, mái nhà dạng ovan, hai đầu
mái có hình ngọn rau Yớn ( dương xỉ), thường chỉ cách mặt đất chừng 1m.
Các vì kèo phía trong được xếp thành hình vòng tròn, chụm lại ở trên
nóc,xung quanh một cây cột cái chính giữa nhà, xà trang trí rất cầu kỳ
bằng cách vẽ hoặc khắc nổi hình các con vật như : kỳ đà,rùa, rắn, thậm
chí cả hình rồng. Các kèo buộc với nhau bằng dây mây trắng, thành những
đường chéo rất công phu.
Nhà ở :

Nhà vòm M’Nông Nhà sàn Jẻ
Có thể chia nhà ở của các tộc người Tây Nguyên làm ba loại hình dạng khác nhau :
* Nhà sàn thuộc dạng kiên cố :
Của các tộc người Sê Đăng, Bâhnar, Êđê, Jrai : các cột nhà đều là thân cây gỗ lớn. Sàn cao.
* Nhà sàn thuộc dạng bán kiên cố ( nhà mu rùa ) :
Của nhóm Ca Tu, Jẻ, Triêng và một số tộc người khác như Brâu, Mnâm,
Hrê, Ka Dong, K’Ho. Mạ…. Cột bằng cây gỗ loại vừa . Mái lợp tranh hình
ovan.Hai đầu mái có thanh gỗ nhọn tượng trưng cho chiếc sừng trâu. Sàn
lát bằng nứa, đập dập. Sàn chân thấp.
* Nhà dạng “ tạm ” ( nhà vòm ) :
Của nhóm các tộc người phía nam Tây Nguyên như Mnông, Jẻ Triêng,
Stieng… cũng là nhà dài nhưng do có tập quán du cư, nên đều làm dạng nhà
trệt bằng vật liệu không bền vững, như gỗ làm cột nhà thường là loại
cây chỉ bằng bắp tay. Mái nhà lợp tranh rủ xuống sát đất, có hai cửa ra
vào hình ovan. Dưới lớp tranh, trên hệ thống các vì kèo – dưới lớp tranh
– là một tấm phên đan thưa thành các hình vuông, hoặc quả trám rất khéo
léo.
Kiến trúc nhà dài Êđê,Jrai tiêu biểu cho nhóm ngôn ngữ Nam Đảo :
Đập vào mắt du khách trước tiên là mái tranh ( hlang) , với hai đầu
hồi nhọn nhô ra phía sàn hiên trước và sau nhà. Mái thường lợp rất dày,
đủ sức chịu đựng vài chục năm mưa liên miên ở Tây Nguyên. Dột ở đâu,
người ta gỡ tranh tại đó ra dặm lại, khiến trên mái nhà có những khoảng
tranh mới cũ khác nhau, tạo nên một ấn tượng vui mắt.Cửa vào nhà Êđê ở
hai đầu hồi.
Một căn nhà sàn Êđê, Jrai có chiều dài thường từ 25-50m.Trong những
ngôi nhà thông thường, hệ thống cột gồm 6 cây gỗ ( ana) lớn chạy song
song hai bên lòng nhà. Đồng bộ với các cột (kmeh sang ) là hai cây xà
nhà (êyông sang) dài cũng suốt chiều dọc của căn nhà.
Người Jrai với tập quán chọn địa điểm cư trú gần kề sông nước ( sông A
Yun Pa, Sông Ba, Sông Sa Thầy…), nên các cột nhà thường có độ cao hơn
nhà Êđê, gần như lênh khênh trên hệ thống những cây gỗ nhỏ.Cửa vào nhà
dài Jrai ở chính giữa hông nhà
Kiến trúc Nhà Sê Đăng ( nhóm ngôn ngữ Nam Á ):
Nhà ở của Sê Đăng cũng được làm từ những nguyên liệu truyền thống vốn
có sẵn ở núi rừng như: Gỗ, tranh, tre, nứa, lồ ô… Nhà sàn có độ dài
tuỳ thuộc vào số lượng thành viên trong từng gia đình, từ mặt đất đến
gầm sàn khoảng dưới 1m.
Mỗi ngôi nhà có hai cửa: Cửa chính cầu thang đặt ở khoảng giữa của
ngôi nhà dành cho mọi người trong gia đình và khách. Trước cửa có làm
sàn bằng ván gỗ hoặc tre nứa, không có mái che, để khách dừng chân trước
khi lên nhà và để giã gạo; cầu thang phụ đặt ở đầu hồi phía nam dành
cho trai gái đến tìm hiểu để không làm ảnh hưởng đến sinh hoạt của gia
đình.
Hầu như tất cả các tộc người đều sử dụng một loại nguyên liệu làm
vách nhà bằng tre, nứa.Riêng với tộc người Tà Ôi & Ca Tu làm vách
nhà bằng vỏ cây achoong ( còn có tên gọi là cây ươi bay ), một loại cây
chỉ có ở rừng miền núi vùng huyện A Lưới ( Thừa Thiên – Huế ).
Nhà mồ

Nhà mồ ở Tây Nguyên mô phỏng hoàn toàn hình dạng của ngôi nhà thường
ngày vẫn sinh sống.( Đốí với người Êđê và Jrai là hình dạng ngôi nhà sàn
dài ), tuy nhiên kích cỡ đã được thu nhỏ lại, chỉ vừa trùm lên và đủ
che mưa nắng cho ngôi mộ.
Nhà mồ cũng chủ yếu làm bằng vật dụng gỗ, nứa, tranh tre có sẵn trên
rừng. Cột gỗ là chủ yếu, không có các vì kèo, mà chỉ là những cột chống
và phủ mái lên.Nhà mồ tạm thì mái có thể lợp tranh, nhưng sau lễ bỏ mả
phải làm mái gỗ.Ở vùng người Ca Tu & Tà Ôi, nhà mồ được làm hoàn
toàn bằng gỗ
Nhà mồ Êđê :
Người ta lồng 4 tấm gỗ xẻ nối vào nhau thành một chiếc khung hình chữ
nhật, đặt bao quanh ngôi mộ.Trên những tấm ván này, có vẽ nhiều hoa
văn màu đen và đỏ. Mái cũng là những tấm gỗ đặt nằm ngang, ở hai đầu
hồi có khắc nổi hình vành trăng khuyết, đây là thế giới của linh hồn.
Xung quanh nhà mồ có hàng rào bao. Ở 4 góc rào có các cột gơng kút,
trên các cột này có thể là hình những chiếc nồi đồng, ngà voi . Hai cột
gơng klao cao vút nối hai đầu mộ bằng một sợi dây da trâu, hiển thị con
đường đi về làng trời của linh hồn. Đầu nhà mồ là nhà cúng cơm
Nhà mồ Jrai :
Thường rất đồ sộ. Ngoài khung gỗ hình chữ nhật úp sát lên ngôi mộ,
người ta dựng bao quanh một ngôi nhà có mái cao tương tự như nhà Rông,
mái hình chóp có 4 mặt. Trên chóp còn có một cột gưng klao mà đỉnh là
tấm gỗ khoét thành hoa văn dạng sao và hình vuông kèm theo những hình vẽ
đỏ đen, trắng. Cả ngôi nhà mồ được trang trí bằng rất nhiều hoa văn.
Bốn cột gơng xung quang mộ đồng thời là bốn tượng gỗ liền trụ. Xung
quanh nhà mồ Jrai là cả một không gian “ ngự trị” của các tượng mồ dày
đặc và đa dạng hình tượng.
Nhà mồ của người Bâhnar, Sê Đăng :
Mái ngôi mộ được vẽ vời rất công phu. Ngoài hình trăng khuyết là biểu
tượng chung của thế giới người chết , người ta chủ yếu lấy những hoa
văn quen thuộc với cuộc sống, như hình quả trám, hình tròn, lượn sóng,
con mắt…để vẽ nên và rất nhiều tượng gỗ.
Nhà mồ của người Bâhnar Rngao vùng Đăk Hà ( Kon Tum) hoàn toàn khác
hẳn khi làm bằng gỗ, trùm vừa đủ kín diện tích ngôi mộ, kê trên một giá
gỗ thấp lè tè sát mặt đất.
Nhà mồ của người Ca Tu, Tà Ôi :
Thường dựng bằng gỗ lớn, chạm khắc rất nhiều hình rồng, kỳ đà, đầu và
sừng trâu trên nóc và cũng sử dụng rất nhiều màu sắc ( thậm chí là loè
loẹt) cho các cột nhà mồ.Mái thường thấp, muốn vào bên trong phải cúi
người xuống.Tất cả gỗ xử dụng tại nhà mồ đều không để ở dạng thô mà có
sự chau chuốt tỷ mỷ,mang tính mỹ thuật cao.
Vẻ đẹp độc đáo của kiến trúc nhà Rông, nhà ở, nhà mồ Tây Nguyên,
chính là một trong những nét đặc sắc làm nên diện mạo riêng, là một điểm
nhấn quan trọng trong “ Không gian văn hóa cồng chiêng”, đã được UNESCO
công nhận là “ Di sản văn hóa của nhân loại” .
Tiếc thay, kiến trúc của nhà sàn ở Tây
Nguyên ngày nay đang lùi dần vào quá vãng. Nhà mồ cũng đang biến dạng
thành gạch đá thậm chí là gạch hoa.Không thể ép bà con các dân tộc thiểu
số giữ mãi được những nếp nhà gỗ, tre nứa, tranh, vì nhu cầu thiết thực
của cuộc sống hiện tại, cũng như không còn nguyên liệu để làm nhà
truyền thống theo ý muốn. Nhưng thiết nghĩ, nếu các công trình công cộng
của mỗi vùng, đều được xây dựng trên nguyên tắc đặc trưng của kiến trúc
cổ truyền, chắc chắn tạo nên một không gian văn hóa ở không chỉ độc đáo
mà còn riêng biệt cho mỗi địa phương, đặc biệt là vùng dân tộc thiểu
số.
Linh Nga Niê Kdăm